• vbu
  • vbu
  • vbu
  • vbu
  • vbu

Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại TP. HCM được thành lập vào năm 1984 với tên gọi là Trường Cao Cấp Phật Học Việt Nam, có nguồn gốc từ trường Đại học Vạn Hạnh, ngôi trường đại học đầu tiên của Phật giáo tại Việt Nam đã đào tạo thành công nhiều thế hệ Tăng tài PGVN.

           TÍN CHỈ VÀ HỆ THỐNG ĐIỂM 
  (Unit Requirements and Standard Grading System)


1. Môn học gồm ba tín chỉ (Three Unit Subject Requirements)


     ◘ Để hoàn tất một môn học gồm 3 tín chỉ, sinh viên phải dự lớp đều đặn, mỗi tuần 2 lần, mỗi lần 90 phút. Không sinh viên nào được phép vắng lớp quá 03 giờ cho một môn học, ngoại trừ trường hợp bệnh tật và bất khả kháng.
     ◘ Đối với các môn học thuộc nhóm nhân văn và xã hội, các sinh viên phải đậu một bài viết nghiên cứu (essay) tại nhà từ 05-10 trang và nộp trước ngày thi cuối học kỳ 01 tuần và một bài thi viết cuối học kỳ tại lớp, cho từng môn học 3 tín chỉ.
     ◘ Đối với các môn ngôn ngữ, các sinh viên phải thi hai lần: giữa học kỳ (tuần 8) và lần cuối học kỳ (tuần 16).

 

2. Chuyển tín chỉ (Transfering Units)


     ◘ Để giúp cho sinh viên khỏi phải học lại các tín chỉ đã học trong các chương trình cử nhân hoặc các khoá học tương đương trong các trường Đại học khác, Học viện sẽ xem xét và chấp nhận các tín chỉ tương đương và do đó có thể chuyển được (transferable units) trong hệ thống tín chỉ của Học viện.
      ◘ Tiêu chí xét duyệt tín chỉ tương đương dựa trên cấp trường, cấp học, môn học, số tín chỉ và tiết học của từng môn.
      ◘ Các tín chỉ hay môn học nào được học tại các trường đại học thuộc hệ thống đại học được Bộ Giáo Dục và Đào Tạo của Việt Nam chấp nhận và các trường đại học nước ngoài đều được xem tương đương với hệ thống tín chỉ của Học viện.

 

3. Hệ thống điểm


     ◘ Đối với các môn học không thuộc ngôn ngữ, thang số 100 điểm được chia thành ba phần như sau: a) Viết tiểu luận (essay): điểm tối đa là 60 điểm, b) Bài thi cuối học kỳ (final exam): điểm tối đa là 40 điểm. Điểm đậu là 25/60 đối với tiểu luận và 15/40 đối với bài thi viết tại lớp.
     ◘ Đối với các môn học thuộc ngôn ngữ, thang số 100 điểm được chia thành hai phần như sau: a) Bài thi giữa học kỳ (midterm exam): điểm tối đa là 40 điểm; b) Bài thi cuối học kỳ (final exam): điểm tối đa là 60 điểm.

    

Điểm Chữ
(Letter Grade)
Điểm Số
(Grade Points Per Credit)
Điểm Bách Phân
(Percentage Grade)
A
4.0-3.9
95-100
A-
3.8-3.5
90-94
B+
3.4-3.2
87-89
B
3.1-2.9
83-86
B-
2.8-2.5
79-82
C+
2.4-2.2
74-78
C
2.1-1.9
70-73
C-
1.8-1.5
65-69
D+
1.4-1.2
60-64
D
1.1-0.9
55-59
D-
0.8-0.7
50-54
E
0.0
40-49

Ghi chú:
     D- = 0.8-0.7: Điểm đậu thấp nhất  (Lowest passing grade).
     E = 0.0: Bị đánh rớt  (Academic failure / No credit earned).
     Học viện sử dụng hệ thống chấm điểm bách phân (percentage grading system) tương đương điểm chữ (letter grade) và điểm số (numberical grade) được phân chia theo môn học thuộc lý thuyết hay ngôn ngữ như sau:

 

4. Điểm chưa hoàn tất (Incomplete)


     Có những trường hợp vì lý do sức khoẻ (có xác nhận của bệnh viện), hoặc những tình huống bất khả kháng, sinh viên không thể hoàn tất 03 phần điểm quy định đối với các môn thuộc văn học (bài thi giữa học kỳ, bài thi cuối học kỳ, bài tiểu luận), hoặc 02 điểm quy định đối với các môn ngôn ngữ (bài thi giữa học kỳ, bài thi cuối học kỳ), sinh viên phải nhận điểm “chưa hoàn tất” (incomplete). Để hoàn tất môn học còn thiếu điểm, theo yêu cầu, sinh viên đó phải đăng ký thi lại trong mùa học kế tiếp với giáo sư phụ trách môn học đó.

 

5. Điểm chấm lại (Re-evaluation)
 

     Trong trường hợp, sinh viên không thoả mãn với số điểm được chấm cho các phần điểm của một môn học nào đó, sinh viên có thể nộp đơn yêu cầu chấm lại. Hội Đồng Khoa Học sẽ đề cử giáo sư khác chấm lại. Nếu số điểm chấm lại lần thứ hai lớn hơn lần thứ nhất 4 điểm cho đến 9 điểm so với lần thứ nhất thì bài điểm chấm lại đó sẽ được lưu giữ. Còn nếu số điểm mới vượt hơn 10 điểm so với số điểm đầu tiên thì mặc nhiên được chuyển đến vị giáo sư thứ ba.
      Số điểm cuối cùng sẽ là số điểm tổng hợp được chia đôi từ hai bài chấm điểm gần nhau nhất. Nếu điểm chấm lại lần thứ hai nằm trong vòng 1-3 điểm trở lại thì giữ nguyên số điểm chấm lần đầu tiên.

 

6. Học lại (Repeat)


     Trong trường hợp không thoả mãn với kết quả điểm của một môn học nào đó sau một học kỳ, sinh viên có quyền nộp đơn xin huỷ bỏ số điểm cũ và ghi danh học lại môn học đó. Số tín chỉ tối đa cho phép học lại là 9 tín chỉ.

 

7. Dự thính (Audit)

     Trong trường hợp nhận thấy có nhu cầu tìm hiểu trước một môn học nào đó, sinh viên có quyền ghi danh xin dự lớp với giáo sư bộ môn. Việc được chấp nhận hay không tuỳ thuộc vào sự đồng ý bằng chữ ký của giáo sư bộ môn.
     Có trường hợp, sau khi ghi danh một môn nào đó, sinh viên cảm thấy mình không đủ sức lấy lớp để thi, thì sinh viên có quyền nộp đơn xin chuyển từ lớp lấy tín chỉ sang lớp dự thính.

 

8. Điểm đạt yêu cầu (Satisfactory and Unsatisfactory):


     ◘ Điểm đạt yêu cầu (Satisfactory) là điểm tối thiểu được xem là đậu. Điểm không đạt yêu cầu (Unsatisfactory) được xem là điểm rớt. Số tín chỉ tối đa cho phép rớt là 9 tín chỉ.
     ◘ Đối với các môn thuộc kiến thức tổng quát (general education), điểm đạt yêu cầu tối thiểu là 2.0. Đối với các lớp chuyên ngành Phật học (majors in Buddhist Studies), điểm đạt yêu cầu tối thiểu là 2.75; và điểm không đạt yêu cầu được tính từ 2.0 đến 2.74, và dưới mức này được xem là “rớt.”