Đôi nét về Cố Hòa Thượng Viện Trưởng Sáng Lập Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại Tp. HCM


Hòa Thượng Thích Minh Châu sinh năm 1920 tại Quảng Nam. Xuất gia năm 1946 với Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết tại chùa Tường Vân, Huế . Từ năm 1952 đến năm 1961, Hòa Thượng xuất dương du học và đậu bằng Tiến sĩ Phật Học với luận án "So sánh Tạng Pàli Trung Bộ Kinh với Tạng Hán A Hàm" (The Chinese Madhyama Agama and the Pàli Majjhima Nikàya a comparative Study) tại Đại Học Phật Giáo Nalanda, Ấn Độ.

 

Từ ngày 18-23/5/1996 HT.Thích Minh Châu, Phó CT kiêm Tổng thư ký GHPGVN, Viện trưởng Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, Hiệu trưởng trường CCPHVN... đã lên đường đến Thái Lan để nhận bằng Tiến Sĩ Phật Học Danh Dự (Honarary Doctorate Degree in Buddhist studies) tại Đại Học Phật Giáo Mahachulalongkornrajvidyalaya, Thủ đô Bangkok, Thái lan.

 

Đại Học Mahachulalongkornrajvidyalaya đã nhất trí phong tặng danh hiệu Tiến Sĩ Phật Học Danh Dự cho Hòa Thượng trong dịp lễ cấp phát văn bằng được tổ chức dưới sự chứng minh của Hòa Thượng Tăng Thống Phật Giáo Thái Lan, để tuyên dương công đức phiên dịch năm bộ Kinh Tạng Nikàya ra tiếng Việt, gồm Trường Bộ Kinh (Digha Nikàya); Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikàya); Tương Ưng Bộ Kinh(Samyutta Nikàya); Tăng Chi Bộ Kinh (Anguttara Nikàya) và Tiểu Bộ Kinh (Khuddaka Nikàya).

 

Hòa Thượng Thích Minh Châu sinh năm 1920 tại Quảng Nam. Xuất gia năm 1946 với Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết tại chùa Tường Vân, Huế . Từ năm 1952 đến năm 1961, Hòa Thượng xuất dương du học và đậu bằng Tiến sĩ Phật Học với luận án "So sánh Tạng Pàli Trung Bộ Kinh với Tạng Hán A Hàm" (The Chinese Madhyama Agama and the Pàli Majjhima Nikàya a comparative Study) tại Đại Học Phật Giáo Nalanda, Ấn Độ. 

Từ năm 1964 đến năm 1975, sau 14 năm du học ở nước ngoài, Hòa Thượng trở lại quê nhà và giữ chức vụ Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh, chuyên lo sự nghiệp giáo dục và phiên dịch Kinh Tạng Pàli, hầu đóng góp tích cực vào công cuộc đào tạo Tăng tài cho PGVN. 

Năm 1976, Hòa Thượng thành lập Viện Phật Học Vạn Hạnh. Năm 1979, Hòa Thượng tham gia vận động thốn nhất và thành lập GHPGVN. Năm 1981,Hòa Thượng làm Hiệu trưởng Trường CCPHVN, cơ sở I tại Hà Nội. Năm 1984, Hòa Thượng mở Trường CCPHVN, cơ sở II tại TP.HCM. Năm 1989, Hòa Thượng thành lập và làm Viện Trưởng Viện Nghiên Cứu Phật Học VN và Hội Đồng Phiên Dịch Đại Tạng Kinh VN.

 

 

Dù bận rộn nhiều công tác Phật sự Giáo hội và giáo dục Tăng Ni nhưng Hòa Thượng vẫn dành thời gian nhất định để dịch thuật và biên soạn kinh sách để truyền bá lời Phật dạy . Tính đến nay có trên 30 tác phẩm do Hòa Thượng dịch và biên soạn, các tác phẩm và dịch phẩm chính gồm có:

 

- Những dịch phẩm, Kinh Tạng Pàli:

 

Kinh Trung Bộ
Kinh Tăng Chi Bộ  

Kinh Tiểu Bộ
Kinh Trường Bộ  
Kinh Tương Ưng Bộ  


a. Kinh Pháp Cú
b. Kinh Phật Tự Thuyết
c. Kinh Phật Thuyết Như Vậy
d. Kinh Tập
e. Trưởng Lão Tăng Kệ
f. Trưởng Lão Ni Kệ
g. Bổn Sanh (2 tập)

 

*Dịch từ Abhidhamma:

 

- Thắng Pháp Tập Yếu Luận ( Abhidhamma Atthasangaha)

 

* Tác phẩm sáng tác:

 

1. Phật Pháp ( đồng tác giả)
2. Đường về xứ Phật ( đồng tác giả)
3. Những ngày và những lời dạy cuối cùng của Đức Phật
4. Đại Thừa và sự liên hệ với Tiểu Thừa
5. Sách dạy Pàli (3 tập)
6. Chữ hiếu trong Đạo Phật
7. Hành Thiền
8. Lịch sử Đức Phật Thích Ca
9. Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi
10. Chánh Pháp và hạnh phúc

 

* Tiếng Anh:

 

11. H'suan T'sang, The Pilgrim and Scholar (Huyền Trang, Nhà Chiêm bái và Học giả - NS Thích Nữ Trí Hải dịch Việt)

 

12. Fa-Hsien, the Unassuming Pilgrim (Pháp Hiển, Nhà Chiêm bái khiêm tốn - NS Thích Nữ Trí Hải dịch Việt)

 

13. Milindapanha and Nàgasenabhikhusùtra - A Comparative Study

 

14. The Chinese Madhyama Àgama and the Pàli Mahjjhima Nikàya - A Comparative Study (Luận án Tiến sĩ Phật học).

 

15. Some Teachings of Lord Buddha on Peace Harmony and Humandignity

 

* Tác phẩm chưa in:

 

16. Dàn bài Kinh Trung Bộ
17. Toát yếu Trường Bộ Kinh
18. Toát yếu Trung Bộ Kinh........

 

Trên đường phát triển nền Phật học VN, Hòa Thượng luôn chủ trương truyền bá tư tưởng Phật học của ba bộ phái Phật Giáo lớn: Thượng Tọa Bộ, Nhất Thiết Hữu Bộ và Đại Thừa, và thường nghĩ đến phần giáo lý Phật Giáo căn bản chung cho các bộ phái để thiết lập cơ sở thống nhất về mặt tư tưởng Phật học.

\

 

Thích Nguyên Tạng
Kính ghi

Nguồn: Quảng Đức